Giá USD của các ngân hàng thương mại vẫn nằm sâu dưới mức trần biên
độ; giá USD trên thị trường tự do cũng thấp hơn rất nhiều so với mức
21.700 - 21.800 VND đợt biến động hơn một năm về trước.
Song, đó cũng là thử thách đầu tiên đối với mục tiêu và cam kết giữ ổn định tỷ giá mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra từ đầu năm.
Là
người trong cuộc và nhiều năm sống cùng với biến động tỷ giá, ông Phạm
Hồng Hải, phó Tổng giám đốc ngân hàng HSBC đưa ra những nhận định đáng
chú ý khi trao đổi với chúng tôi.
5 nguyên nhân biến độngKể
từ đầu tháng 5 đến nay, tình hình biển Đông trở nên căng thẳng, đi cùng
là những sự cố ngoài mong muốn liên quan đến một số doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài tại một số khu công nghiệp. Đây được cho là một điểm khởi
đầu của biến động tỷ giá USD/VND vừa diễn ra. Nhưng trước khi có những
sự cố ngoài mong muốn đó thì tỷ giá trên thị trường tự do cũng đã có hơi
hướng nóng lên. Ông nhìn nhận thế nào về diễn biến này?Đúng là trước khi có sự cố tại một số khu công nghiệp tỷ giá USD/VND cũng đã có một số biến động. Có nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, căng thẳng ở biển Đông tạo nên tâm lý bất ổn trên thị trường.
Thứ
hai, khi tỷ giá rất ổn định trước đó, nhiều ngân hàng sử dụng trạng
thái âm ngoại tệ để hưởng chênh lệch lãi suất giữa VND với USD. Họ kỳ
vọng và tin tưởng tỷ giá sẽ không biến động nhiều. Nhưng khi có thay đổi
tâm lý trên thị trường, các ngân hàng phải đóng trạng thái lại, tạo nên
áp lực nhất định.
Thứ ba, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cũng kỳ
vọng tỷ giá không nhiều biến động nên bán kỳ hạn, bán trước mặc dù doanh
thu chưa về. Việc bán này là tốt cho họ, giúp họ hưởng thêm phần chênh
lệch lãi suất giữa VND với USD. Khi có biến động, họ cũng đóng lại các
hợp đồng trước hạn. Khi đóng như vậy thì ngân hàng phải làm ở chiều
ngược lại, đi ra thị trường để mua ngoại tệ.
Thứ tư, bản thân khi
nhìn vào trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng hiện nay, ẩn trong đó là
sản phẩm mà họ đã chào khoảng hai năm trở lại đây: cho vay VND với lãi
suất USD. Các ngân hàng phải làm âm trạng thái, dùng VND chuyển đổi được
để cho vay.
Có hai trạng thái, trạng thái chuyển đổi USD để lấy
VND cho vay, trạng thái mua bán ngoại tệ. Khi nhìn tổng trạng thái của
các ngân hàng thì thấy vẫn cân bằng, nhưng ở trạng thái chuyển đổi để
lấy VND thì nó đã âm đáng kể, ngân hàng giữ một trạng thái dương cho
danh mục kinh doanh ngoại tệ. Nhìn tổng thể thì khá cân bằng, nhưng khi
phải đóng trạng thái chuyển đổi thì cũng ảnh hưởng nhất định đến thị
trường.
Cuối cùng, có thể vẫn quay lại yếu tố đầu tiên. Với tình
hình biển Đông, mọi người chưa nhìn thấy giải pháp cụ thể. Còn một số sự
cố ngoài mong muốn thì việc xử lý và thích ứng khá là nhanh. Ngay cuối
tuần vừa rồi Chính phủ đã đưa ra thông điệp và biện pháp xử lý nhanh.
Tình hình cũng sớm ổn định trở lại, các doanh nghiệp bắt đầu trở lại sản
xuất kinh doanh từ đầu tuần này.
Nhưng mà sự căng thẳng trên
biển Đông vẫn còn, vẫn tạo sự lo lắng nhất định, vẫn chưa lường tính
được hết ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhất là với thị
trường Trung Quốc.
Có lên có xuống cũng là cái tốtNhư
vậy có thể xem căng thẳng trên biển Đông là một yếu tố đáng chú ý. Bởi
vì thời gian qua thị trường ngoại hối và tỷ giá USD/VND rất ổn định,
Ngân hàng Nhà nước cũng đã đưa ra cam kết giữ ổn định cũng như khẳng
định được niềm tin trên thị trường hơn hai năm qua… Vậy theo ông, những
biến động của tỷ giá USD/VND hiện nay đã phản ánh hết tác động của yếu
tố trên chưa?Thực ra, nếu nhìn vào cái gốc cung - cầu ngoại
tệ thì không có lo. Bởi vì cái cầu nội địa vẫn yếu, từ đầu năm đến nay
mình vẫn thặng dư xuất nhập khẩu, thêm nữa dự trữ ngoại hối của Ngân
hàng Nhà nước rất cao với hơn 35 tỷ USD. Bản thân Ngân hàng Nhà nước
muốn can thiệp vào thì không có khó.
Còn nói biến động tỷ giá do
yếu tố tâm lý, ảnh hưởng từ căng thẳng trên biển Đông, thực tế thì nếu
để tỷ giá vượt qua một ngưỡng tâm lý nào đó, ví dụ như trên thị trường
liên ngân hàng đang giao dịch khoảng 21.145 - 21.150 VND mà sau đó đụng
trần 21.246 VND và thanh khoản thị trường khó, không mua được ở giá
trần, thì nó sẽ đẩy lên một mức mới.
Theo quan điểm của tôi, hiện
nay nhiều người hơi quá lo ngại. Nếu nhìn về phần trăm biến động thì
không lớn, chỉ khoảng 0,25% gì đó thôi. Mà cũng một phần do mọi người
quá quen với trạng thái không nhiều biến động trong thời gian qua rồi,
nên lo lắng.
Nhưng, với thị trường, tỷ giá có biến động lên xuống
cũng là cái tốt. Điều đó giúp cho một người nào đó tránh việc đầu cơ
quá thiên về một hướng. Hay tỷ giá quá ổn định suốt thời gian dài có thể
khiến các doanh nghiệp chủ quan. Khi có biến động ở mức độ nhất định,
nó là tín hiệu của thị trường lưu ý anh vẫn phải quản trị rủi ro.
Tôi
vẫn nhìn nhận rằng, với tiềm lực hiện nay Ngân hàng Nhà nước can thiệp
không khó. Có lẽ Ngân hàng Nhà nước cũng có ý xem thực tế thị trường có
quá căng thẳng hay không trước khi can thiệp. Bởi vì nếu can thiệp ngay
thì người ta lại có thể suy tính có cái gì đó nghiêm trọng hơn nên mới
phải can thiệp gấp như vậy.
Trong biến động vừa qua, làm việc hàng ngày ông có thấy giao dịch của khách hàng có gì đó khác thường không?Tôi
thấy cung - cầu ngoại tệ trên thị trường không thay đổi nhiều. Cũng có
chút ảnh hưởng nhỏ ở những doanh nghiệp mà tuần trước có lộn xộn ở một
số khu công nghiệp. Vì ở đó đa phần là các nhà xuất khẩu, nên họ có
nguồn ngoại tệ về bị gián đoạn vài ngày. Nhưng nhìn chung không có nhiều
khác biệt so với trước, và từ tuần này các doanh nghiệp đó đã bắt đầu
hoạt động trở lại. Chúng tôi dự đoán tình hình thực tế cung - cầu không
nhiều thay đổi.
Cái có khả năng có thể thay đổi là mọi người tính
tới một số phương án dự phòng. Ví dụ một số doanh nghiệp sẽ nói là,
trước đây tôi nhập máy móc thiết bị và nguyên vật liệu từ Trung Quốc
chiếm hơn 50%, giờ phải tính phương án nếu nguồn cung bị gián đoạn thì
nguồn cung dự phòng ở đâu. Nhiều doanh nghiệp đang phải tính phương án
này.
Ngân hàng Nhà nước đã rất thận trọngTrong
biến động này không loại trừ có yếu tố đầu cơ. Ông dự tính thế nào về
khả năng rủi ro đối với hoạt động đầu cơ đó vào lúc này?Nếu
đợt biến động này cộng thêm nhu cầu thị trường mạnh lên thì hãy lo. Lúc
đó không chỉ xử lý vấn đề tâm lý mà còn phải đáp ứng cầu trên thị
trường. Nhưng nếu chỉ là yếu tố tâm lý thì việc giải quyết áp lực trên
thị trường không có khó, đặc biệt là nếu nhìn vào những nguồn lực của
Ngân hàng Nhà nước hiện nay. Những nguồn lực đó tạo niềm tin rất lớn cho
thị trường.
Theo như tôi biết, hai tuần vừa rồi Ngân hàng Nhà
nước vẫn chưa thực sự can thiệp trực tiếp nhưng thị trường cũng không
biến động nhiều.
Như câu hỏi trên, có hai điểm được chú ý
trong đợt biến động này: một là mức độ rủi ro đối với nhà đầu tư, nhà
đầu cơ theo đuổi con sóng này; hai là niềm tin của thị trường đối với
Ngân hàng Nhà nước, hay niềm tin về cam kết giữ ổn định trong năm nay
liệu có bị lung lay hay không. Ông nhìn nhận như thế nào?Ngân
hàng Nhà nước đã cam kết giữ ổn định tỷ giá USD/VND với biến động trong
khoảng 1% trong năm nay. Tôi hoàn toàn tin tưởng mức dao động này sẽ
được giữ cho đến cuối năm, thậm chí là nhiều khi cũng không cần phải
dùng hết mức 1% đó trừ khi nhà điều hành muốn điều chỉnh để tăng tính
cạnh tranh cho xuất khẩu. Nó mang tính chủ quan của mình hơn là do áp
lực của thị trường và cung - cầu.
Nhưng cũng có một yếu tố nữa
cũng phải lưu ý tới là thị trường vàng, vì nó có ảnh hưởng đến thị
trường ngoại tệ tự do. Nếu để chênh lệch giá vàng trong nước so với thế
giới quá lớn thì nó tạo nên tâm lý không tốt trong dân cư.
Bây
giờ, tạm đặt yếu tố tác động từ căng thẳng ở biển Đông sang một bên,
chỉ đơn thuần là chính sách điều hành tỷ giá gắn với các yêu cầu cân đối
vĩ mô của Việt Nam, theo ông chính sách tỷ giá hiện có ổn không?Ngân
hàng Nhà nước đã rất thận trọng trong chính sách ngoại hối và tiền tệ
nói chung thời gian gần đây. Sự kết hợp giữa chính sách tiền tệ với
ngoại hối rất nhuần nhuyễn, trơn tru trong khoảng hai năm qua.
Mọi
người nhìn lại, khi nào thị trường có biến động, áp lực về ngoại hối,
thì ngay lập tức Ngân hàng Nhà nước sẽ rút bớt thanh khoản tiền đồng
trên thị trường ra để giảm áp lực, hoặc ngược lại… Trong bối cảnh hiện
nay là hợp lý, phù hợp với mục tiêu mình muốn tăng dự trữ ngoại hối lên,
và vì có tỷ giá ổn định nên tạo được niềm tin vào VND rồi dùng cái đó
làm cơ sở để kéo lãi suất xuống.
Còn nếu đi ngược lại bài toán
đó, như ý kiến của một số chuyên gia là phá giá VND mạnh để hỗ trợ xuất
khẩu, nhưng nếu nhìn vào cái lợi thì chưa chắc mình tính toán được trực
tiếp lợi cho xuất khẩu bao nhiêu, mà nhiều khi cái hại sẽ lớn hơn, chi
phí điều chỉnh tỷ giá, mặt bằng lãi suất, niềm tin vào tiền đồng…
Và
rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi họ nhìn vào Việt Nam họ thấy một
điểm sáng trong 2013 và 2014 là ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định tỷ giá.
Nếu không còn những điểm sáng đó nữa thì họ sẽ xem xét lại việc đầu tư
vào Việt Nam.
VND vẫn hấp dẫn hơnTrong
đợt biến động này, một số bạn bè, người thân có hỏi tôi là nên phản ứng
thế nào. Nếu là tôi, ông sẽ trả lời họ như thế nào, hay là một khuyến
nghị?Khá đơn giản thôi. Nếu nhìn vào và song sánh việc có
tiền nhàn rỗi gửi tiết kiệm, nhìn vào phần chênh lệch giữa lãi suất VND
so với USD hiện nay so với khả năng biến động tỷ giá thì VND vẫn hấp dẫn
hơn.
Tất nhiên một số người muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư của
mình, một ít bằng vàng, bất động sản, ngoại tệ, VND…, nhưng nhìn từ
trong quá khứ từ trước đến giờ, so sánh thuần túy giữa gửi tiết kiệm VND
với USD thông thường gửi VND vẫn có lợi hơn, ngay cả trong những năm tỷ
giá biến động mạnh. Vì thông thường Ngân hàng Nhà nước vẫn muốn duy trì
một mức chênh lệch lãi suất VND so với USD cao hơn khả năng biến động
tỷ giá để tạo sự hấp dẫn cho gửi VND.
Theo Minh Đức
Comments[ 0 ]
Post a Comment