“Tổng tư lệnh” ngành Ngân hàng đã từng
tuyên bố, trong 3 năm tới, số lượng ngân hàng sẽ giảm còn một nửa, từ 35
xuống chỉ còn 14-17 ngân hàng.
“Ông lớn, ông bé” nhà băng nhập cuộc
Báo
cáo về triển vọng khu vực ngân hàng Việt Nam năm 2014, tổ chức xếp hạng
tín nhiệm Standard & Poor’s đánh giá, các ngân hàng Việt Nam tiếp
tục đối diện với những thách thức về chất lượng tài sản, lợi nhuận thấp
và năng lực về vốn còn yếu, nếu không cải thiện được những vấn đề này,
mức tín nhiệm đối với các ngân hàng có thể giảm xuống.
Như vậy,
trong thời gian tới, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, có thể Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ nâng quy định về vốn điều
lệ. Trước đây, NHNN cũng đã từng xây dựng dự thảo Nghị định về việc ban
hành danh mục mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng. Theo đó, năm
2015, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ nâng lên 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên,
do khủng hoảng kinh tế diễn ra, dự định này đã bị dừng lại nhưng chắc
chắn, thời gian tới, NHNN sẽ phải nâng quy định về vốn điều lệ. Khi đó,
ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng nếu không sáp nhập, sẽ phải đóng
cửa!
Trước sức ép đó, các nhà băng như “ngồi trên đống lửa”, đến
nay không chỉ các ngân hàng nhỏ và ngay cả các “ông lớn” cũng đã phải
rốt ráo, lên kế hoạch xây dựng phương án tăng vốn điều lệ năm sau cao
hơn năm trước.
Điển hình như Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank) đã đề xuất phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành
cổ phiếu tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu (cổ phiếu thưởng) cho
cổ đông hiện hữu của ngân hàng với tỷ lệ 15%, theo đó, dự kiến sau khi
tăng, mức vốn điều lệ của Vietcombank sẽ là gần 26.650 tỷ đồng.
Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển (BIDV) cũng sẽ nâng vốn điều lệ từ
28.112 tỷ đồng hiện nay lên 33.570 tỷ đồng. Để thực hiện được kế hoạch
tăng vốn này, ngoài chi trả cổ tức bằng cổ phiếu và phát hành cổ phần
cho cổ đông hiện hữu, BIDV sẽ bán 10,5% vốn cho các nhà đầu tư tài
chính, tương đương 318,9 triệu cổ phần…
Hiện trên thị trường vẫn
còn 12 ngân hàng có vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng. Trước sức ép sáp nhập,
hợp nhất để tồn tại thì Ngân hàng TMCP Việt Á (VietA Bank), Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công thương (SaigonBank), Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB)…
cũng đều có kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 3.000 - 4.000 tỷ đồng trong kỳ
đại hội đồng cổ đông vừa qua.
Sacombank trước khi sáp nhập
vào Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southernbank) cũng đã trình cổ đông
phương án tăng thêm vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng từ nguồn chia cổ phiếu quỹ
và cổ phiếu thưởng từ quỹ thặng dư vốn cổ phần với tỷ lệ 10% cho cổ
đông hiện hữu và từ nguồn cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 8% cho cổ đông
hiện hữu. Ngân hàng TMCP Nam Á (NamABank) cũng đưa ra kế hoạch dự kiến
tăng thêm vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng trong quý III/2014.
Được
biết, trước đó, tại đại hội cổ đông năm 2013, rất nhiều ngân hàng thông
qua tờ trình tăng vốn điều lệ như: Ngân hàng TMCP Bắc Á (BacABank), Ngân
hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) hoặc như OCB với kế hoạch tăng thêm 766
tỷ đồng vốn điều lệ trong năm 2013… nhưng đến nay vẫn trễ hẹn và chưa
hoàn thành được lộ trình tăng vốn điều lệ theo đúng thời hạn đặt ra.
Tuy
nhiên, “cuộc chiến” nào cũng phải đến hồi kết! Thống đốc NHNN Nguyễn
Văn Bình cũng đã thẳng thắn, trong 3 năm tới, số lượng ngân hàng sẽ giảm
xuống chỉ còn một nửa, từ 35 ngân hàng xuống còn 14-17 ngân hàng. Như
vậy, dù có muốn hay không thì các nhà băng đều phải tự thân vận động,
trước mắt là phải tự đảm bảo điều kiện về sức khỏe cho mình trong cuộc
chiến “sinh tồn” khốc liệt này!
“Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là
thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng”, nhấn mạnh điều này, giới chuyên
gia tài chính – ngân hàng cho rằng: Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ
này, nghĩa là đã tạo được cho mình một tấm lá chắn vững chắc chống lại
những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ người gửi
tiền. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hiện trên thế giới phổ biến ở mức 12%
theo tiêu chuẩn của Basel II do Ủy ban giám sát các ngân hàng Basel ban
hành.
Đừng quên quản trị rủi ro!
Cảnh
báo điều này, giới chuyên gia cho rằng, điều đáng lo lắng nhất hiện nay
của hệ thống các ngân hàng chính là vấn đề chủ sở hữu và quản trị rủi
ro. Tham gia “cuộc đua” tăng vốn điều lệ lần này, các ngân hàng cần rút
kinh nghiệm để không “dẫm lên vết xe đổ” của những “cuộc đua” tăng vốn
điều lệ trước đây. Đó là, tạo ra tình trạng sở hữu chéo và trình độ quản
trị ngân hàng yếu kém. “Nếu chỉ tăng vốn điều lệ để đối phó với các quy
định mà bỏ quên việc cải thiện năng lực quản trị và trình độ nguồn nhân
lực thì cho dù ngân hàng có dồi dào về nguồn vốn cũng chưa chắc đã vững
mạnh về tài chính”, một chuyên gia tài chính – ngân hàng nêu quan điểm.
Khảo sát thực tế cho thấy, thời gian qua các ngân hàng TMCP mặc
dù đã áp dụng nhiều chương trình quản trị, chính sách tín dụng tiên
tiến; Tiến hành thực hiện chương trình xếp hạng tín dụng nội bộ; Quy
trình thẩm định, phê duyệt và phân cấp phê duyệt đã khá chặt chẽ… tuy
nhiên, làm thế nào để triển khai tốt những nguyên tắc đó và tạo được một
cách nhìn chung giữa các ngân hàng và các bộ phận về rủi ro tín dụng
đang là vấn đề đặt ra cho hệ thống.
Nghiên cứu mới đây của Ngân
hàng Standard Chartered cũng cho thấy, 51-53% rủi ro tín dụng là do chủ
quan của những cán bộ trong hệ thống. “Trong các ngân hàng Việt Nam,
khẩu vị rủi ro giữa bộ phận bán hàng, thẩm định rủi ro, phê duyệt luôn
luôn không nhất quán”, bà Lê Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng quản trị Viện
Ngân hàng Tài chính (BTCI) nhận xét.
“Để giảm thiểu rủi ro trong
hoạt động tín dụng, cần có một mặt bằng chung chuẩn hoá những quy định,
rủi ro về tín dụng. Nhất là phải tạo ra trong xã hội một cách nhìn nhận
chung về rủi ro tín dụng để cán bộ ngân hàng hiểu, chấp nhận rủi ro và
có phương án dự phòng rủi ro. Theo đó, cần phải quy chuẩn lại khẩu vị
rủi ro cho các cán bộ ngân hàng từ người bán hàng, thẩm định, quản lý
rủi ro, cho đến người làm chính sách trong toàn hệ thống bằng một chuẩn
đào tạo thống nhất”, ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó giám đốc Văn phòng
Eximbank khu vực miền Bắc chia sẻ.
“Quan trọng hơn là cần tạo
lập một ngôn ngữ chung cho cả hệ thống. Nó sẽ là cơ sở để các ngân hàng
soi vào thực tế và tránh rủi ro pháp lý”, nhấn mạnh điều này, bà Phùng
Thị Thu Hương, Giám đốc Khối tín dụng của VPBank cho rằng, khi có cùng
một ngôn ngữ thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong quy trình
cấp tín dụng, cũng như giảm thiểu rủi ro không chỉ cho ngân hàng mà còn
cho cả khách hàng.
Theo ThS Nguyễn Hoàng Dũng
Comments[ 0 ]
Post a Comment