Thống đốc Nguyễn Văn Bình: “Trên cơ sở phân tích các quan hệ cung - cầu, Ngân hàng Nhà nước
kiên quyết không phá giá, mà bằng tuyên bố của mình, can thiệp giữ ổn
định để tạo và giữ niềm tin trên thị trường”.
Minh Đức
Tại hội nghị sơ kết ngành 6 tháng đầu năm 2014, Thống đốc Nguyễn
Văn Bình một lần nữa nói trước về việc điều hành: Ngân hàng Nhà nước sẽ
nối lại hoạt động mua vào ngoại tệ từ tuần tới.Một
tuần sau đó, nhận thấy có tín hiệu nối lại, VnEconomy liên lạc để tìm
hiểu thông tin. Thống đốc cho biết: “Hôm nay đã mua vào. Ngày mai sẽ mua
nhiều hơn. Nhưng từ ngày kia sẽ khó mua”.
Ông chỉ “bật mí” ngắn gọn vậy.
“Ngày kia” của Thống đốcBẵng
đi, gần 6 tháng sau, đến khi tìm hiểu về đợt biến động tỷ giá cuối năm
nay, lý do “ngày kia sẽ khó mua” mới được giải thích cụ thể.
Ông
Bình gợi mở hơn khi trao đổi với VnEconomy rằng, Ngân hàng Nhà nước điều
hành tỷ giá bằng nhiều công cụ, bởi tỷ giá có mối quan hệ rất mật thiết
với lãi suất, với thanh khoản. Quan hệ cung - cầu ngoại tệ có thể đầy
đủ, nhưng quan hệ với VND bị phá vỡ thì lập tức nó có thể ảnh hưởng đến
tỷ giá, dù ngoại tệ thực tế không thiếu.
Bởi lẽ, khi các tổ chức
tín dụng dư nhiều tiền đồng, với lãi suất quá thấp thì họ quay sang tạo
sóng và lướt sóng trên thị trường ngoại tệ. Từ “lướt sóng” là thực tế mà
người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận, ngay cả với các doanh
nghiệp khác.
Ngân hàng Nhà nước có đầy đủ số liệu, nắm chắc tình
hình về cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, để điều hành linh hoạt; tức
là luôn phải làm sao để giữ tỷ giá, lãi suất, thanh khoản hệ thống ở
mức cân bằng với nhau. Việc điều hành thường định hướng cho cả tháng, cả
quý, nhưng thực tế phải sống với thị trường hàng ngày.
“Hôm đó
tôi nói là khó mua, vì nó rơi vào đầu tháng. Thời điểm đó các ngân hàng
thương mại tương đối là thừa tiền. Vì cuối tháng họ phải đảm bảo yêu cầu
dự trữ bắt buộc theo quy định nên thường phải tích tiền vào. Hết cuối
tháng thì lại thừa tiền, khi thừa thì tìm cách lướt sóng”, Thống đốc
chia sẻ một kinh nghiệm quan sát của mình.
Điều mà ông nhấn mạnh
là phải nắm được hơi thở của thị trường, nắm được ứng xử của các ngân
hàng và doanh nghiệp mới dự tính được “từ ngày kia sẽ khó mua”, chứ
không chỉ là lý thuyết hay dựa vào các công cụ điều hành.
Dù ở
cấp cao nhất, song hàng ngày người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước vẫn phải
nắm những chi tiết và tình huống cụ thể như vậy, nhất là với sự nhạy cảm
của tỷ giá.
Nhân chi tiết trên, Thống đốc kể với VnEconomy: có
người hỏi ông, vì sao trả lời Quốc hội, hay phát biểu ở đâu ông cũng nói
luôn và ghi nhớ chi tiết đến từng con số ở mọi khía cạnh hoạt động của
ngành. Theo ông, ứng xử với lãi suất, tỷ giá, thanh khoản…, nếu không
nắm cơ sở các con số thì không làm gì được.
Áp lực tăng tỷ giá là có thực!Cuối
tháng 11 đầu tháng 12/2014, tỷ giá USD/VND biến động. Đầu tuần này, nó
vẫn có hướng tăng lên. Ông Nguyễn Văn Bình nói thẳng: “Áp lực tăng tỷ
giá cuối năm nay là có thực!”.
Nhu cầu ngoại tệ có tăng lên. Thứ
nhất, thời gian cuối năm, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển lợi
nhuận về chính quốc, nhu cầu mua ngoại tệ ghi nhận là có tăng. Hai là,
các nhà đầu tư gián tiếp cũng muốn chốt lời trong thời gian vừa qua, họ
bán ròng và thu ngoại tệ để chuyển lợi nhuận.
“Đó là yếu tố có
thực, tăng lên đột biến so với các yếu tố khác, Ngân hàng Nhà nước hoàn
toàn giám sát được”, Thống đốc cho biết.
Ngoài ra, diễn biến tỷ giá hiện nay còn có một yếu tố khá riêng biệt.
Thông
thường các năm, Tết âm lịch rơi vào tháng 1 dương lịch, nên trước đó
các doanh nghiệp, theo quá trình kinh doanh với nước ngoài, thường kết
thúc vào tháng 12 để chuẩn bị nghỉ Tết, nên các hợp đồng thanh toán
thường diễn ra trong tháng 12, nguồn cung ngoại tệ dồi dào lên.
Riêng
năm nay, Tết âm lịch lại rơi vào tháng 2 dương năm sau. Với thông lệ
trên, nhiều doanh nghiệp chuyển thanh toán vào tháng 1, để nghỉ Tết vào
tháng 2. Theo đó, yếu tố thời gian không khớp với nguồn cung ngoại tệ
như các năm trước.
Ngoài ra, kiều hối cũng tăng mạnh vào dịp
trước Tết âm lịch. Như vậy, kiều hối sẽ tăng mạnh vào tháng 1/2015 thay
vì vào tháng 12/2014 như thông lệ hàng năm.
Như vậy, cầu ngoại tệ
tăng lên trong khi cung ngoại tệ “không khớp nhịp” như trên, áp lực
tăng tỷ giá là có thực, chứ không chỉ đơn thuần về tâm lý.
Bên
cạnh đó còn có yếu tố tâm lý đầu cơ. Năm 2014, Ngân hàng Nhà nước định
hướng nếu điều chỉnh tỷ giá sẽ không quá 2%. Từ đầu năm mới chỉ điều
chỉnh 1%, nên giới kinh doanh và đầu cơ ngoại tệ có kỳ vọng điều chỉnh
tiếp. Kỳ vọng này dẫn đến găm giữ và nâng tỷ giá.
Thực tế, cuối
tháng 11 vừa qua, sau một thời gian dài mới có hiện tượng doanh nghiệp
găm giữ và đàm phán với ngân hàng với giá bán cao hơn. Nút thắt này chỉ
khơi thông trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tuyên bố không có lý do gì
điều chỉnh tỷ giá, cùng với việc bán ra can thiệp.
Và còn một
nguyên do nữa. Suốt 11 tháng đầu năm, định hướng điều hành và thực tế tỷ
giá được giữ ổn định, các ngân hàng thương mại đã chủ động bán ngoại tệ
ra cho thị trường, mạnh dạn bán. Đến tháng 11, trạng thái ngoại tệ hệ
thống ngân hàng đã âm tới 6%, tương đương với khoảng hơn 1 tỷ USD.
Với
các yếu tố trên, dĩ nhiên các ngân hàng thương mại cũng nhận thấy áp
lực tăng tỷ giá là có thực, họ hạn chế bán ra, bởi nếu trạng thái âm quá
có thể lỗ nếu có điều chỉnh tỷ giá. Mặt khác, cuối năm họ phải đóng
trạng thái âm ngoại tệ quá lớn để chuẩn bị quyết toán. Việc bán ra ngoại
tệ theo đó cũng hạn chế.
“Làm không phải vì trót hứa”Trước
các nguyên nhân và biến động của tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước đứng trước
hai lựa chọn: một là tiếp tục phá giá VND, hai là bán ra can thiệp.
Nhìn
nhận những yếu tố trên tạo sức ép thực sự lên tỷ giá, nhưng nhà điều
hành phân tích: cung - cầu dù có áp lực nhưng vẫn bình thường; xét tổng
thể, cán cân thanh toán vẫn tiếp tục thặng dư và tính dồn từ đầu năm cỡ
hơn 10 tỷ USD.
Mặt khác, họ xác định việc phá giá VND vào thời
điểm cuối năm này không có lợi cho nền kinh tế (những năm trước cũng
tránh điều chỉnh vào cuối năm). Thống đốc Nguyễn Văn Bình lý giải, vì
đây là lúc các nhà xuất khẩu đã xuất khẩu rồi nên không tạo ra động lực
hỗ trợ mang tính thời điểm, trong khi nếu phá giá thì nhà nhập khẩu phải
chịu chi phí cao hơn do chốt sổ vào cuối năm.
Còn với trạng thái
ngoại tệ hệ thống âm khoảng hơn 1 tỷ USD, nếu Ngân hàng Nhà nước bán ra
hỗ trợ, các ngân hàng thương mại sẽ tin tưởng họ có thể đóng trạng thái
bất cứ lúc nào. Khi có niềm tin, họ sẽ trở lại bán ra.
Với tính
toán trên, trong đợt biến động vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã bán khoảng
1 tỷ USD, trạng thái ngoại tệ của hệ thống đã trở về mức rất thấp.
“Quan
hệ cung - cầu không có gì, nhưng vì có các yếu tố tạo áp lực ở trên nên
Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng bán ngoại tệ để can thiệp. Tôi bán ra để
thể hiện, tôi nói là làm. Không phải vì trót hứa nên phải làm. Mà có
nghĩa là, về tổng thể thì vẫn cân bằng, thậm chí còn dư ngoại tệ, thế
nhưng cuộc sống đôi khi có những thời điểm có áp lực thì đó là lúc đòi
hỏi thể hiện vai trò điều tiết của Ngân hàng Nhà nước”, Thống đốc nói về
quyết định can thiệp vừa qua, và cả về sự sẵn sàng hiện nay.
“Cái cân bằng là ổn định, thế nhưng nếu anh không giữ được cái ổn định đó thì nó sẽ bị yếu tố tâm lý chi phối”.
Ông
nhấn mạnh, các cân đối ngoại tệ hiện cân bằng, thậm chí thặng dư lớn,
còn mất cân đối chỉ là tạm thời. Với vai trò là người điều tiết cuối
cùng, khi có mất cân đối tạm thời, Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng cung ứng.
“Cũng
như việc định hướng tỷ giá năm nay, nếu điều chỉnh sẽ không quá 2% là
tính toán khách quan, trên cơ sở các cân đối và phù hợp với yêu cầu hỗ
trợ phát triển nền kinh tế, chứ không phải hành chính, không phải vì
mong muốn chủ quan mà gò thị trường theo nó”.
“Năm nay, Ngân hàng
Nhà nước không dùng hết định hướng 2% đó, không tiếp tục điều chỉnh.
Không phải cứ thấy thị trường rục rịch là điều chỉnh ngay. Trên cơ sở
phân tích các quan hệ cung - cầu nói trên, Ngân hàng Nhà nước kiên quyết
không phá giá, mà bằng tuyên bố của mình, can thiệp giữ ổn định để tạo
và giữ niềm tin trên thị trường”, ông Bình khẳng định.
Comments[ 0 ]
Post a Comment